Sử ký viết: “Người bắn
cung giỏi như Dưỡng Do
Cơ đời nhà Chu, đứng xa
cách trăm bước mà bắn
tên trúng xuyên qua lá
liễu”, chỉ tài bắn tên
siêu phàm. Nghĩa bóng:
Người có tài, hữu dụng
cho đất nước.
Nghĩa: Cây sào trăm
thước. Nguyên câu là:
“Bách xích can đầu, cánh
tiến nhất bộ” (“Dù đã
lên tới đầu cây sào cao
trăm thước, nhưng vẫn cố
tiến thêm một bước
nữa”). Ý nói: Có tài
cao, nhưng không lấy làm
tự mãn, vẫn cố gắng để
tiến bộ thêm. Thành ngữ
“bách xích can đầu” chỉ
người có tài năng, đạo
đức ở đỉnh cao.
Ví dụ đặt tên: Lưu Bách
Xích – Hồ Bách Can.
6. Bàn khê thọ khảo:
Bàn: địa danh ở huyện
Bảo Khê, tỉnh Thiểm Tây,
Trung Quốc; khê: khe
suối; thọ: sống lâu;
khảo: già.
Nghĩa: Khe bàn sống lâu.
Theo tích xưa, Khương Tử
Nha ngồi câu cá ở Khe
Bàn, lúc đó khoảng tám
chục tuổi, được Văn
Vương mời ra cầm quân
diệt nhà Trụ, lập nên
nhà Chu.
Ví dụ đặt tên: Mai Thọ
Khê – Trần Bàn Khê.
7. Băng hồ thu
nguyệt:
Băng: giá, nước vì lạnh
mà đóng lại thành thể
rắn; hồ: cái bình đựng
rượu; thu: mùa thu;
nguyệt: trăng.
Nghĩa: Bầu giá trăng
thu. Nghĩa bóng: Lòng
trong sạch của bậc hiền
nhân quân tử.
Ví dụ đặt tên: Trần Băng
Hồ - Trịnh Thị Thu
Nguyệt
Dương Ngọc Hồ - Phạm
Băng Tâm
8. Bất khả tư nghị:
Bất: không; khả: có thể;
tư: nghĩ; nghị: bàn
Nghĩa: Không thể bàn.
Chữ trong kinh Phật: “Kỳ
công đức bất khả tư
nghị, quả báo diệc bất
khả tư nghị” (“Công đức
không thể nghĩ, bàn bạc
được; quả báo cũng không
thể nghĩ, bàn bạc
được”).
Chỉ một sự việc, một
nhân cách cao siêu,
không thể bàn bạc, nghĩ
đến được.
Chữ lấy trong sách Mạnh
Tử: “Tri chi vi tri, bất
tri vi bất tri, thị tri
dã” (“Biết thì nói là
biết, không biết thì nói
là không biết, như thế
đó mới gọi là biết
vậy”).
Ý câu này dạy sự chân
thật trong tri thức.
Ví dụ đặt tên: Lê Thị
Bất Tri – Nguyễn Thị Tri
Dương Bất Tri – Trần Văn
Tri
10. Bị hạt hoài ngọc:
Bị: mặc; hạt: áo vải của
người nghèo; hoài: mang,
ôm, lận; ngọc: viên ngọc
Nghĩa là : Mặc vải lận
ngọc. Nghĩa bóng: Người
quân tử không muốn cho
người đời biết mình.
Sách Lão Tử viết: “Tri
ngã giả hi, tắc ngã quí
hĩ; thị dĩ thánh nhân bị
hạt hoài ngọc” (“Ít kẻ
biết ta thì ta lại quý,
cho nên thánh nhân mặc
đồ vải gai mà trong lưng
lận ngọc báu”).
Bĩ: tên một quẻ trong
Kinh Dịch; chỉ sự bế
tắc; cực: rất lắm, cuối
cùng; thái: tên một quẻ,
chỉ sự thông thuận, an
vui; lai: đến.
Nghĩa: Bế tắc ở mức cùng
tột thì đến sự thông
thuận, an vui. Hết thời
vận xấu, đến thời may
mắn.
Ví dụ đặt tên: Nguyễn
Thái Lai – Trần Văn Lai
Phạm Văn Thái.
12. Biên châu chuyết
ngọc:
Biên: đan bện, sắp xếp;
châu: hạt ngọc trai;
chuyết: kết lại với
nhau; ngọc: viên ngọc
Nghĩa: Sắp xếp lại các
hạt châu và kết các viên
ngọc lại với nhau.
Nghĩa bóng: làm bài văn
tuyệt diệu. Đây là lời
khen một nhà làm văn
xuất sắc.
Ví dụ đặt tên: Trần Thị
Châu Ngọc – Lý Ngọc Châu
Phạm Ngọc Biên – Nguyễn
Chuyết Ngọc
13. Bộ bộ liên hoa
Bộ: đi bộ, bước; liên:
hoa sen; hoa: bông hoa.
Nghĩa: bước bước hoa
sen.
Nam sử kể: Đông Hôn Hầu
yêu quý nàng hầu là Phan
Phi rất đẹp, cho làm cái
lầu ở, sàn chạm những
đoá sen. Mỗi lần nàng
bước đi, ông khen: “Thử
bộ bộ liên hoa dã” (“Mỗi
bước đi nở một đoá sen
vậy”). Chỉ sự tôn quý,
đẹp đẽ.
Ví dụ đặt tên: Nguyễn
Thị Liên Hoa – Trần Thị
Liên.